Kỹ thuật nuôi tôm nước lợ, mô hình thâm canh và bán thâm canh P2

2.3. Chọn và thả giống

2.3.1. Chọn giống:

– Chọn mua tôm giống từ các cơ sở có uy tín, có phiếu xét nghiệm âm tính về các mầm bệnh MBV, đốm trắng, đầu vàng, taura, IMNV, hoại tử gan tụy…

– Cỡ giống: tôm sú P15 – P20, tôm thẻ chân trắng P12 trở lên.

– Kiểm tra sức khỏe tôm giống bằng cách gây sốc:

+ Sốc độ mặn: Lấy 40-50 tôm giống cho vào cốc thủy tinh chứa 300 ml nước lấy từ bao vận chuyển giống. Hạ độ mặn đột ngột xuống còn 15‰ và theo dõi trong 30 phút, nếu tỷ lệ sống 100% là đạt yêu cầu.

+ Sốc bằng formol: Thả 40-50 tôm giống vào chén, cốc thủy tinh đựng dung dịch formalin nồng độ 100ppm và theo dõi trong 30 phút, nếu tỷ lệ sống 100% là đạt yêu cầu.

2.3.2. Thả giống:

– Mật độ thả:

+ Tôm sú: Nuôi thâm canh 15-20 con/m2; nuôi bán thâm canh 8-14 con/m2.

+ Tôm chân trắng: 30-60 con/m2 (đối với những hộ mới chuyển đổi) và 60-80 con/m2 (những hộ có kinh nghiệm và đủ điều kiện).

– Cách thả:

+ Thả vào sáng sớm hoặc chiều mát.

+ Trước khi thả giống cần chạy quạt nước từ 8-12 giờ để đảm bảo lượng oxy hòa tan trong ao phải lớn hơn 4mg/ l.

+ Cân bằng nhiệt độ nước giữa bao giống và nước ao nuôi bằng cách thả nổi bao giống trên mặt hồ vài phút. Sau đó, cho nước từ từ vào đầy bao, cầm phía đáy bao từ từ dốc ngược để tôm giống theo nước ra ao nuôi.

Ảnh DN

2.4. Chăm sóc và quản lý:

2.4.1. Cho ăn:

Cho tôm ăn theo bảng hướng dẫn. Ngoài ra, tùy vào thực tế (sức khỏe của tôm, chu kỳ lột xác, thời tiết,…) và theo dõi sàng ăn/ chài khi tôm từ 20 ngày tuổi trở lên để điều chỉnh, quản lý thức ăn cho phù hợp, tránh tình trạng cho ăn thiếu hoặc thừa thức ăn sẽ ảnh hưởng đến tốc độ phát triển và sức khỏe của tôm.

Cho ăn mỗi ngày 3 lần.

2.4.2. Lượng thức ăn:

– Tháng nuôi thứ nhất: Sử dụng thức ăn cỡ nhỏ cho giai đoạn mới thả.

+ Ngày thứ 10 sau khi thả giống, cho ít thức ăn vào sàng/ nhá/ vó để tôm làm quen, dễ cho việc kiểm tra lượng thức ăn dư sau này. Sàng ăn đặt nơi bằng phẳng, cách bờ ao 1,5-2 m, sau cánh quạt nước 12-15 m, không đặt ở các góc ao, khoảng 1.600-2.000 m2 đặt 1 sàng.

+ Sau 15 ngày có thể sử dụng các chất bổ sung cung cấp vitamin, khoáng chất theo chỉ dẫn của nhà cung cấp giúp tôm tăng cường sức khỏe.

+ Tôm sú: Ngày đầu tiên cho 1,2-1,5 kg/ 100.000 giống, cứ 2 ngày tăng 0,2-0,3 kg/ 100.000 giống.
+ Tôm chân trắng: Ngày đầu tiên cho 2,8-3 kg/ 100.000 giống. Trong 10 ngày đầu tiên, cứ 1 ngày tăng 0,4 kg/ 100.000 giống. Từ ngày thứ 10-20, cứ 1 ngày tăng 0,5kg/ 100.000 giống.
– Tháng nuôi thứ hai đến khi thu hoạch:
+ Điều chỉnh thức ăn trong ngày qua theo dõi lượng thức ăn thừa trên sàng ăn.
+ Chuyển đổi loại thức ăn phù hợp theo giai đoạn phát triển, cỡ miệng tôm và nhu cầu dinh dưỡng như hướng dẫn của nhà sản xuất ghi trên bao bì. Khi chuyển đổi thức ăn, nên trộn lẫn 2 loại thức ăn cũ và mới cho ăn ít nhất 3 ngày.

Cách điều chỉnh lượng thức ăn

Kiểm tra thức ăn trong sàng/nhá

Cách xử lý cho lần ăn tiếp theo

Nếu tôm ăn hết

Tăng 5% thức ăn cho lần sau

Nếu thức ăn dư khoảng 10%

Giữ nguyên thức ăn cho lần sau

Nếu thức ăn dư khoảng 11-25%

Giảm 10% thức ăn cho lần sau

Nếu thức ăn dư khoảng 26-50%

Giảm 30% thức ăn cho lần sau

Nếu thức ăn còn nhiều hơn 50%

Ngưng cho ăn lần sau

Thời gian kiểm tra thức ăn trong nhá /sàng

Thời gian nuôi (ngày)

Thời gian kiểm tra sàng ăn (giờ)

21- 60

2.5 – 2.0

61- 90

2.0 – 1.5

> 90

1.5 – 1.0

Lưu ý:
– Những ngày thay đổi thời tiết, mưa, nắng gắt chỉ cho 70-80% lượng thức ăn đã định, tránh dư thừa gây ô nhiễm nước. Theo dõi kỳ lột vỏ để giảm lượng thức ăn và tăng sau khi tôm lột vỏ xong.
– Đối với các cơ sở nuôi tôm dùng thức ăn có chứa Ethoxyquin
+ Với hàm lượng ≤ 90 ppm: Chuyển sang dùng các loại thức ăn không chứa Ethoxyquin 04 ngày trước khi thu hoạch; Không dùng các loại thức ăn bổ sung như: Dầu gan mực, dầu cá hồi, bột mực, bột cá FMB 60, Fish meal 66%.
+ Với hàm lượng 90-120 ppm: Chuyển sang dùng các loại thức ăn không chứa Ethoxyquin 05 ngày trước khi thu hoạch; Không dùng các loại thức ăn bổ sung như: Dầu gan mực, dầu cá hồi, bột mực, bột cá FMB 60, Fish meal 66%.
+ Với hàm lượng 120-150 ppm: Chuyển sang dùng các loại thức ăn không chứa Ethoxyquin 06 ngày trước khi thu hoạch; Không dùng các loại thức ăn bổ sung như: Dầu gan mực, dầu cá hồi, bột mực, bột cá FMB 60, Fish meal 66%.
2.4.3. Quản lý môi trường ao nuôi:
– DO, pH, độ trong ( đo hằng ngày ); độ kiềm và NH3 (3-5 ngày đo 1 lần).
– pH và độ kiềm là hai yếu tố quan trọng tác động đến đời sống của tôm. Khi pH và độ kiềm thay đổi ngoài khoảng thích hợp sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tôm nuôi.
+ Khắc phục tình trạng pH thấp: gây tảo và giữ màu nước thích hợp đảm bảo độ trong đạt từ 30-40 cm. Trong quá trình nuôi nếu pH < 7.5 cần bón vôi (CaCO3, Dolomite) với liều 10-20 kg/ 1000 m3 nước.
+ Khắc phục tình trang pH cao: sử dụng mật đường 3 kg/ 1.000 m3 kết hợp sử dụng vi sinh  hoặc dùng Acid acetic 3 lít/ 1.000 m3.
+ Khắc phục độ kiềm thấp: sử dụng Dolomite 15-20 kg/ 1.000 m3 vào ban đêm cho đến khi đạt yêu cầu.
+ Khắc phục độ kiềm cao: sử dụng EDTA 2-3kg/ 1.000 m3 vào ban đêm
Quy trình xử lý môi trường cho nuôi tôm nước lợ bán thâm canh, đảm bảo – Emuniv
Tùy vào tình hình thực tế môi trường ao nuôi mà điều chỉnh và bón lượng vôi cho phù hợp.
– Định kỳ bón vôi nông nghiệp CaCO3 10 ngày/ lần vào lúc 20-21h với liều lượng dao động từ 10-20 kg/ 1000 m3 tùy theo độ mặn để điều chỉnh pH thích hợp:
+ Nếu độ mặn dưới 17‰ thì điều chỉnh pH từ 8,2 – 8,4;
+ Nếu độ mặn trên 17‰ thì điều chỉnh pH giảm xuống 8,0 – 8,2;
+ Nếu độ mặn = 25‰ thì điều chỉnh bằng 7,7 – 7,8.
Đến 11-12h trưa ngày hôm sau, cấy vi sinh theo chỉ dẫn của nhà cung cấp (sản phẩm có uy tín, thương hiệu) để làm sạch môi trường.
Nếu độ mặn giảm đột ngột do trời mưa thì phải điều chỉnh bằng nước ót (nước muối) hoặc bổ sung muối hột.
Khi tảo trong ao phá triển mạnh, màu nước thay đổi, pH dao động trong ngày >0.5 cần:
+ Thay tối thiểu 30% lượng nước trong ao;
+ Hòa tan 2-3 kg đường cát/ 1000 m2 và tạt đều ao vào lúc 9-10 giờ sáng.
+ Chạy cánh quạt, sục khí liên tục trong vài giờ.
– Khi nhiệt độ nước ao tăng trên 34oC:
+ Cần giảm thức ăn;
+ Bổ sung vitamin C (trộn vào thức ăn);
+ Tăng thời gian chạy quạt nước, sục khí;
Khi nhiệt độ nước ao giảm xuống dưới 24oC, có hiện tượng tôm vùi đầu, phải giảm thức ăn và tăng đề kháng ngay.
Hạn chế lấy nước vào ao nuôi, khi cần thiết thì lấy nước vào ao lắng rồi xử lý Chlorine liều 30 kg/ 1000 m3 chạy quạt liên tục, đến khi hết dư lượng Chlorine thì tiến hành bơm vào ao nuôi ( qua túi lọc ).
– Trong quá trình sinh trưởng, tôm cần rất nhiều khoáng nên cần duy trì độ kiềm từ 120 mg/ lít trở lên bằng cách sử dụng vôi CaCO3 hoặc Dolomite và thường xuyên bổ sung khoáng cho ao nuôi vào ban đêm 3-5 ngày/ lần giúp tôm nhanh cứng vỏ và lột xác đồng loạt.
– Chỉ diệt khuẩn khi cần thiết (tránh những trường hợp như: tôm đang suy yếu, đang trong quá trình lột xác hay có các biểu hiện về bệnh gan…).
Lưu ý
– Hạn chế sử dụng men vi sinh trong giai đoạn đầu (giai đoạn tôm mới thả đến 1,5 tháng tuổi).
– Tháng thứ nhất: Giữ màu nước hồ nuôi thích hợp (xanh nõn chuối) tạo sự ổn định các chỉ số môi trường pH, kiềm, nhiệt độ, oxy hòa tan,…tránh sinh tảo đáy hoặc tảo phát triển quá mực,
– Tháng thứ 2:
+ Giữ màu nước thích hợp (xanh nâu, đục), mực nước sâu 1,2-1,8m để sự dao động về nhiệt độ, oxy hòa tan, pH giữa ban ngày và ban đêm diễn ra chậm không gây sốc cho tôm. Duy trì các yếu tố thích hợp độ trong từ 30-40 cm; độ kiềm 80-120; độ mặn từ 15-25‰; pH từ 7,5 – 8,5; Oxy hòa tan > 4mg/ lít; H2S < 0,01 mg/l; NH3 < 0,1 mg/l.
+ Định kỳ 20-25 ngày xử lý nước và đáy hồ bằng chế phẩm sinh học theo hướng dẫn của nhà cung cấp.
+ Quạt nước sục khí bổ sung oxy từ 19h00 đến 05h00 sáng hôm sau.
+ Có thể bổ sung thuốc bổ, thuốc đường ruột, các loại khoáng, trộn vào thức ăn cho ăn theo hướng dẫn của các nhà cung cấp có thương hiệu, uy tín để tăng cường sức đề kháng.

2.5. Thu hoạch

Tùy theo giá cả mà người nuôi chọn thời điểm thu hoạch cho phù hợp khi tôm đạt kích cỡ. Trước khi thu hoạch cần theo dõi chu kỳ lột xác của tôm và hạn chế thu khi tôm còn mềm vỏ để tránh tình trạng tôm bán bị rớt giá.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Liên hệ nhanh